Sunday, March 14, 2021

Cho đi là một niềm hạnh phúc, càng là một sự hàm ơn

 

 

Cho đi là một niềm hạnh phúc, càng là một sự hàm ơn

An Hòa

 

Người xưa có câu: «Hành thiện tối nhạc», làm việc thiện là vui sướng nhất. Lòng người quả thật vô cùng kỳ lạ, khi chúng ta làm bất kể việc gì không tốt thì trong lòng sẽ thấy bất an, không vui vẻ nổi, nội tâm cũng không thoải mái. Còn nếu làm việc thiện không vì điều kiện gì thì trong lòng chúng ta lại cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Đó là niềm hạnh phúc của sự cho đi.

 

Một số người cho rằng, phải có điều kiện, có tiền bạc mới có thể giúp đỡ người khác, mới có thể cho đi. Nhưng kỳ thực, ngay cả khi chúng ta không có những thứ vật chất ấy, chúng ta vẫn có thể cho đi một cách rất ý nghĩa và hữu ích.

 

Đôi khi chỉ một lời nói động viên khích lệ, một cái nhìn hay một nụ cười ấm áp là chúng ta đã có thể chuyển một người buồn thành một người vui vẻ. Thậm chí chỉ bằng những cử chỉ nhỏ ấy, chúng ta đã có thể cảm hóa được một người ác thành người lương thiện hơn.


Cho đi là một niềm hạnh phúc, càng là một sự hàm ơn
(Ảnh minh họa: Grassmemo/Shutterstock, Royalty-free stock photo)

Tại một số nơi trên thế giới, người ta không chỉ cho đi một cách tự nguyện mà nó còn được xem là một «nguyên tắc ngầm» để quy định mọi người.


Câu chuyện của người Do Thái

 

Ở vùng nông thôn của đất nước Israel, mỗi khi đến vụ thu hoạch hoa màu chín, người ta sẽ để lại phần hoa quả ở bốn góc ruộng mà không thu hoạch. Bạn có biết vì sao không? Đó là phần hoa màu người ta để lại và bất kể ai cũng có quyền hưởng thụ.

 

Họ cho rằng, Thiên chúa đã ban cho người dân Do Thái vốn trải qua nhiều tai nạn nay được sống cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Vì thế, họ để lại hoa màu ở bốn góc ruộng với ý nghĩa tỏ lòng biết ơn Thiên chúa đã ban cho họ cuộc sống như ngày hôm nay, cũng vừa là để cung cấp thức ăn cho những người đói khổ đi ngang qua vùng đất.

 

Hoa màu là bản thân mình trồng được, giữ lại một chút cho người khác hưởng thụ, đó chính là sự chia sẻ, sự cho đi vô điều kiện. Họ cho rằng, cho đi, chia sẻ là một sự cảm ơn, một niềm hạnh phúc và càng là một thứ đạo đức tốt đẹp của con người thế gian.

 

Ngoài ra, hàng năm, người Do Thái đều tổ chức lễ hội Hanukkah (lễ hội ánh sáng) để gợi nhớ về sự sung túc. Vào dịp này, họ sẽ ở bên người thân và bạn bè tề tựu quanh một đài có nhiều nhánh để cắm nến mỗi đêm. Họ vừa thắp nến và vừa cầu nguyện.

 

Người Do Thái cho rằng sống với cảm giác sung túc khiến họ hạnh phúc hơn cả về vật chất và tinh thần. Và từ xưa đến nay, người Do Thái vẫn luôn được dạy dỗ để tiếp nhận quan niệm này.

 

Quan niệm sung túc của người Do Thái còn được thể hiện trong các điều răn, khuyên yêu thương người khác như yêu chính mình. Đó là bởi vì tổ tiên người Do Thái đều trải qua sự đau khổ và kiếp nô lệ. Nếu không có sự rộng lượng từ những người hàng xóm, từ những người lạ mặt, và từ Thiên chúa thì không ai có thể tồn tại được.

 

Vì thế, họ quan niệm rằng, cho đi đơn giản là việc đúng đắn cần làm, giống như lời của một vị giáo trưởng Do Thái nổi tiếng đã nói: «Không ai nghèo đi khi làm từ thiện cả».


Câu chuyện ở vùng nông thôn Hàn Quốc

 

Nguyên tắc «ngầm» về sự cho đi này không phải là chuyện «độc nhất vô song» của người Do Thái mà nó cũng xảy ra ở đất nước Hàn Quốc.

 

Ở ven đường của vùng nông thôn phía bắc Hàn Quốc có rất nhiều vườn hồng. Đến mùa thu hoạch, những người nông dân nơi đây đều để lại những trái hồng chín mọng ở trên cây. Vì thế, những trái hồng vừa to vừa chín mọng ở trên cây đã tạo thành một con đường có phong cảnh vô cùng đẹp. Du khách đi qua nơi đây ai cũng trầm trồ khen ngợi vẻ đẹp của con đường và vẻ quyến rũ của những trái hồng to chín mọng.



(Ảnh minh họa qua violet.vn)

Người dân địa phương ở đây nói rằng, cho dù những trái hồng có to đến cỡ nào đi nữa, có ngon đến cỡ nào đi nữa, họ cũng lưu lại để làm thức ăn cho chim Hỷ Thước. Vì sao lại có tập quán như vậy?

 

Nguyên lai, nơi này là nơi mà chim Hỷ Thước thường xuyên dừng lại. Mỗi khi mùa đông đến, chim Hỷ Thước đều kéo đến đây, xây tổ trên những cây hồng và sống sót qua mùa đông giá rét.

 

Năm ấy, trời đặc biệt lạnh, tuyết lại rơi rất nhiều. Hàng trăm chú chim Hỷ Thước vì không kiếm được thức ăn, lại lạnh giá nên trong một đêm mà chết hết.

 

Mùa xuân năm sau, những cây hồng ở đây lại nảy mầm xanh non, ra hoa và kết quả. Nhưng đúng lúc ấy, bỗng nhiên côn trùng từ đâu đến tạo thành một loại dịch họa, khiến cho năm đó hồng gần như không còn quả nào.

 

Từ đó về sau, mỗi năm đến mùa thu – mùa thu hoạch hồng chín, người dân nơi đây lại để lại một số hồng chín, làm thức ăn cho chim Hỷ Thước ăn qua mùa đông. Những trái hồng trên cây vừa to vừa ngon, hấp dẫn rất nhiều đàn chim Hỷ Thước đến nơi đây sinh sống qua mùa đông.

 

Chim Hỷ Thước dường như cũng biết ơn con người, đến mùa xuân, chúng không vội vã bay đi mà ở lại bắt sâu cho cây, cứ như thế năm nào cây hồng cũng cho ra những quả hồng chín mọng ngon ngọt.

 

Kỳ thực, cho người khác một con đường sống, thường thường cũng là cho mình sự hy vọng và cơ hội sinh tồn. Hết thảy giới tự nhiên, đều là sống dựa vào nhau, nhờ vào nhau mà sống. Cổ nhân cũng từng dạy: «Nhất vinh câu vinh, nhất tổn câu tổn», tức là một người vinh hoa thì tất cả vinh hoa, một người tổn hại thì tất cả tổn hại.

 

Cho đi là một sự khoái hoạt, vui vẻ. Bởi vì cho đi không phải là hoàn toàn mất đi, mà là một cách thu hoạch cao thượng. Cho đi là một niềm hạnh phúc, bởi vì cho đi càng có thể khiến tâm linh mình tốt đẹp. Nếu có thể, hãy nguyện ý cho đi nhiều hơn!

 

An Hòa

Friday, March 12, 2021

Trình độ văn hóa của con người được thể hiện qua tiểu tiết

 


Trình độ văn hóa của con người
được thể hiện qua tiểu tiết

https://www.facebook.com/tonydzung.com.vn/photos/a.920059914689090/4158143234214059/?type=3&source=58

Tony Dzung

1. Khi người khác rót nước cho mình, đừng chỉ ngồi yên nhìn người ta mà hãy đưa nay ra nâng cốc, điều đó thể hiện phép lịch sự.

2. Khi người khác nói chuyện với mình, ít nhất cũng phải đáp lại người ta một câu. Đừng để người ta nói xong một câu lại nhận về được sự im lặng hoặc câu nói À, Ừ, Ờ, đúng rồi cùng với sự khó chịu.

3. Nếu có người nhìn chằm chằm vào bạn, đừng nhìn thẳng vào người ta. Hãy giả vờ như mình không biết.

4. Là con gái, tuyệt đối không nên cả đời ngửa tay xin tiền đàn ông.

5. Dùng bữa xong nên nói: «Tôi ăn xong rồi, mọi người cứ ăn đi nhé!»

6. Khi đưa đồ cho người khác phải đưa bằng hai tay.

7. Ngồi ghế không nên vắt chéo chân.

8. Lúc ăn cơm nên cầm bát lên, không được dùng đũa đảo lộn thức ăn, không gõ bát đũa.

9. Người đi vào cuối cùng nên đóng cửa.

10. Tiễn người khác về nên nói: «Đi cẩn thận nhé!»

11. Rửa tay xong không nên tùy tiện vẩy tay, để nước bắn lên người khác sẽ rất bất lịch sự.

12. Khi đưa dao hoặc vật nhọn cho người khác, nên đưa phần chuôi hướng về họ.

13. Không nên công khai điểm yếu của người khác.

14. Khi người khác nói chuyện với mình hãy chú ý vào người ta, đừng đảo mắt nhìn xung quanh.

15. Khi rót trà hay rót nước cho người khác xong, không nên quay vòi ấm về phía họ.

16. Đi, đứng, ngồi, nghỉ cần đúng tư thế, tác phong.

17. Nói được phải làm được. Nếu không làm được thì đừng hứa.

18. Nếu trong phòng có người, khi ra ngoài nên đóng cửa nhẹ nhàng.

19. Cả thế giới này đều không tin vào nước mắt.

20. Khi đưa đồ cho người khác mà ở giữa cách một người, không nên đưa thẳng ra trước mặt người ta mà nên vòng qua phía sau.

21. Học cách dịu dàng và biết lắng nghe.

22. Đến chơi nhà người khác, đừng tùy tiện ngồi lên giường nhà người ta.

23. Ăn cơm cố gắng đừng phát ra tiếng.

24. Lúc nhặt đồ hoặc đi giày nên ngồi thấp xuống chứ đừng cúi người, khom lưng.

25. Khi bị phê bình, dù người khác có sai đi chăng nữa cũng đừng vội phản bác, nên đợi họ nói xong bình tĩnh lại hẵng giải thích.

26. Làm việc gì cũng nên có điểm dừng thích hợp, bất kể là ăn món mình thích hay tức giận điều gì đó.

27. Đến nhà bạn ăn cơm nên chủ động rửa bát hay xếp dọn bàn ăn.

28. Trong cuộc sống bạn sẽ phải gặp nhiều thể loại người khác nhau, chắc chắn không phải ai bạn cũng có thể hòa hợp được nhưng có một câu nói luôn đúng trong mọi trường hợp: Bạn đối xử với người khác thế nào, người ta sẽ đối xử lại với bạn như vậy.

29. Dù là ai, trong trường hợp nào cũng đừng dễ dàng kể bí mật của mình với người khác.

30. Học hành là chuyện cả đời. Chỉ học kiến thức trong sách thôi là chưa đủ, phải học cả kiến thức xã hội. Thực tế cuộc sống luôn phức tạp hơn những gì bạn nghĩ.

31. Dũng cảm nhất là khi nhận ra sự tàn khốc của cuộc sống nhưng vẫn yêu cuộc sống này cháy bỏng. Đừng sợ sự dối trá, nhưng cần phải biết cuộc sống luôn tồn tại sự dối trá.

32. Khi lau bàn nên lau hướng về phía mình.

33. Khi gọi điện thoại hoặc nghe điện thoại, câu đầu tiên phải luôn là: «Alo, chào.... ạ!». Khi tắt máy, nếu người kia là người lớn tuổi hơn bạn hoặc là cấp trên của bạn thì tốt nhất bạn nên chờ họ tắt điện thoại trước, còn nếu bạn là người lớn tuổi hơn hoặc cấp trên của họ thì bạn nên chủ động tắt máy trước, đừng để người ở đầu dây bên kia phải đợi.

34. Đừng khạc nhổ hoặc vứt rác bừa bãi. Nếu nơi đó không có thùng rác, hãy cầm rác về vứt vào thùng rác nhà mình.

35. Khi đi trên đường đừng đút tay vào túi áo.

36. Bất kể trong hoàn cảnh nào cũng nên đánh răng cẩn thận, đặc biệt là vào buổi tối.

37. Tuyệt đối đừng bao giờ bỏ bữa sáng. Nếu không ăn sáng thì cũng phải uống nước hoặc uống sữa.

38. Đỗ xe nên đỗ đúng nơi quy định, chừa không gian cho người khác mở cửa xe, đầu xe nên hướng ra phía ngoài để tiện rời đi.

39. Nếu là cửa thủy lực, dù là cửa đẩy hay cửa kéo cũng nên làm theo quy tắc «Ra trước vào sau». Nếu phía sau có người nên giữ cửa chắc, tránh để cửa bật lại va vào người khác. Khi có người mở cửa giúp mình đừng quên cảm ơn họ.

40. Phép lịch sự nên áp dụng đối với tất cả mọi người, bất kể họ là cấp trên, là người lớn tuổi, là nhân viên phục vụ hay là cô chú lao công bên đường.

Tony Dzung

Monday, February 8, 2021

Nhật ký của một linh hồn sau khi chết

 

 

Nhật ký của một linh hồn
sau khi chết

https://www.facebook.com/watch/?v=671441156687961

Vào một ngày, khi hơi thở ta không còn nữa, đứng cạnh thân xác đang nguội lạnh, cứng đờ của ta, ta đã thấy... Người ghét ta, nhảy múa vui mừng, người thương ta, nước mắt rưng rưng.

Ngày động quan...

Thân thể ta nằm sâu dưới lòng đất. Người ghét ta, nhìn nấm mộ niềm vui hiện rõ. Người thương ta, chẳng nỡ quay đầu nhìn lần cuối.

Ba tháng sau...

Thân xác ta đang dần trương sình, bốc mùi hôi thối, thuở còn sống ta vô cùng ghét côn trùng, giờ đây giòi bọ đang nhăm nhi cái thân mà ta cả đời nâng niu, tàn sát sinh mạng để cung phụng cho nó đủ thức ngon, mặc đẹp, đắp vào bao nhiêu tiền của.

Một năm sau...

Thân thể của ta đã rã tan…nấm mộ của ta mưa bay gió thổi...ngày giỗ ta, họ vui như trẩy hội, mở tiệc hội họp ca nhạc, ăn uống linh đình. Người ghét ta, lâu lâu trong buổi trà dư tửu hậu nhắc đến tên ta...họ vẫn còn bực tức. Người thương ta, khi đêm khuya vắng lặng, khóc thầm rơi lệ tìm ai bày tỏ.

Vài năm sau...

Ta không còn thân thể nữa, chỉ còn lại một ít xương tàn. Người ghét ta, chỉ nhớ mơ hồ tên ta, họ đã quên mất gương mặt của ta. Người yêu thương ta, khi nhớ về ta có chút trầm lặng. Cuộc sống xô bồ dần dần làm phai mờ đi tất cả.

Vài chục năm sau...

Nấm mộ của ta hoang tàn không người nhang khói, quan tài nơi ta nằm đã mục nát, chỉ còn một mảng hoang vu. Người ghét ta, đã già lú cũng quên ta rồi. Người yêu thương ta, cũng tiếp bước ta đi vào nấm mộ.

Đối với thế giới này...

Thành bại rồi củng buông

Vui buồn rồi củng bỏ

Đến đây bàn tay trắng

Ra về không vấn vương

Ta đã hoàn toàn trở thành hư vô, không ai biết ta từng tồn tại, bạn bè, đồng nghiệp, người thân, mỗi người một nơi, kẻ già, người chết, những gì ta dùng đã mất, những gì ta dành dụm để lại, rơi vào tay kẻ khác.

Ta phấn đấu, hơn thua, tranh giành cả đời, cũng không mang theo được nhành cây ngọn cỏ. Tiền tài, gia sản mà ta cố giữ, cố thủ đoạn, mưu mô để có cũng không mang được một phần hư danh, vinh dự hão huyền nào.

Ta nhận ra sống trên đời này, bất luận là giàu sang phú quý hay bần tiện nghèo nàn khi nhắm mắt, xuôi tay phải bỏ lại tất cả, trả hết cho đời. Cái ta mang theo được, chính là cái ta đã cho đi là đạo đức là sự lương thiện. Bất giác ta có chút ân hận, lòng lâng lâng một nỗi buồn khó tả, cứ da diết, da diết mãi không thôi.

Bao nhiêu phồn hoa, thoáng qua phút chốc.

Trăm năm sau, chỉ còn lại một nắm nấm mộ vô danh.

Cuộc đời như nước chảy hoa trôi, lợi danh như bóng mây chìm nổi, chỉ có tình thương ở lại đời.


CHỮ THỜI

*Tất cả hiện tượng của đời đều bị rỉ sét và mục nát, chỉ có kho báo trên trời còn mải với thời gian.

*All phenomenal are impermanent and are  subject to be decay and die. Worked out your salvation diligently.

*Trên trời và dưới đất

Chỉ cái đấy trên hết

Tất cả hiện tượng đời

Đều sinh lảo bệnh chết

 *Tất cả chỉ là "có đó rồi mất". Đằng nào thì tất cả chúng ta, sớm hay muộn, sẽ đều chết cả.

*Thời gian sống của các bạn có giới hạn (Life is too short, and It has the expiration date.)

*Một đệ-tử khẩn-khoản hỏi: "Nhưng có hay không có sự sống sau khi chết?"

Minh-Sư trả lời cách bí ẩn: "Có sự sống trước khi chết không? Đó mới là vấn đề!"

Chúng ta hay quay về truy tìm quá khứ, mở rộng tương lai và bỏ quên hiện tại. Vì thế, chúng ta đã đánh mất mình mà không hay không biết.

*Hối tiếc quá khứ, và lo sợ tương lai nhửng tên trộm tài tình đả ăn cắp mất thời gian quý báo của cuộc sống hiện tại.

*Đừng để cuộc sống trôi qua kẻ tay vì mải đắm chìm trong hối tiếc quá khứ, hoặc mơ mộng ảo tưởng về tương lai, hảy nắm bắt tận hưởng cuộc sống trong từng khoảnh khắc để cảm thấy từng ngày trôi qua thật tròn vẹn.

*Tám mươi sáu ngàn bốn trăm giây (24 Giờ)

Luôn hưởng sáng vui sống giờ đây

Thời gian trôi mải như ngọc quý

Không dùng thì mất tiếc lắm thay

*Thời gian đang trôi, và khoảnh khắc này luôn là điểm khởi đầu. Time is rolling, and this moment is always a starting point.

Begin where you are

Use what you have

Do  what you can

Now or Never

Use It or lose It

In It or Nothing

Có đó rồi mất theo năm tháng

Chỉ còn tình thương ở lại đời



Sunday, July 19, 2020

Những video về vấn đề giáo dục


Những video về vấn đề giáo dục

 
Những thiên tài «bị đuổi học»
.. .. .. ..

Saturday, July 18, 2020

Luận về lý tưởng


Luận về lý tưởng
Trần Xuân Thời

Lý tưởng (Ideal) là những gì tốt đẹp nhất mà chúng ta muốn đạt đến. Nào là ngôi nhà lý tưởng, hai trái tim vàng trong túp lều tranh. Người yêu lý tưởng, công việc lý tưởng, đời sống lý tưởng, cộng đồng lý tưởng, quốc gia lý tưởng.


Phải chăng chỉ có con người mới có lý tưởng. Đúng, chỉ có con người mới có những ước mơ làm đẹp cuộc đời, cho nên con người không ngừng làm việc, phát minh để tiến bộ, cải tiến sinh hoạt hàng ngày từ sinh hoạt cuả cá nhân, tổ chức, đoàn thể đến sinh hoạt của cộng đồng, xã hội từ thời thượng cổ đến thời đại văn minh như hiện nay.


Con người khác các sinh vật khác nhờ có lý trí, biết suy xét, biết phát minh những điều mới lạ, biết suy xa, hiểu rộng để theo đuổi lý tưởng của mình. Lý tưởng có thể xếp loại vào đối tượng (subject) như những lý tưởng nhằm vào phúc lợi cá nhân, gia đình, cộng đồng, quốc gia, nhân loại. Hoặc xếp loại theo mục đích (goal) như làm giàu, phát triển kiến thức, kiến tạo hòa bình, thiết lập tự do, công lý, nhân quyền, kiến tạo hạnh phúc cho đồng bào, phát triển nghệ thuật, phát triển thể thao, phát triển các phương tiện giải trí.....


Trí tuệ là cơ năng đặc biệt của con người. Từ thuở sơ sinh, trí tuệ như một tờ giấy trắng. Trí tuệ thu nhận các dữ kiện từ thế giới bên ngoài nhờ các giác quan, tinh luyện các dữ kiện thu nhận được qua quá trình học hỏi, tiếp xúc, chia sẻ, đối thoại, làm việc và lưu trữ kinh nghiệm vào vô thức. Tiến trình nấy đóng góp vào sự phát triển của trí tuệ. Tai càng nghe nhiều, mắt càng thấy nhiều, trí tuệ càng thu nhận được nhiều dữ kiện, gặp được nhiều hoàn cảnh, biết được nhiều sự việc thì con người càng trở thành lão luyện. Người khôn thường là người trường trải, học hỏi nhiều, và biết ứng dụng kiến thức vào nhiều hoàn cảnh trong môi trường sống.

Muốn thực hiện được lý tưởng, cần phải hội đủ bốn yếu tố chính, ba yếu tố đầu có tính cách bẩm sinh (innate) và yếu tố thứ tư do sự tu luyện của bản thân.

- Trí tuệ (intellect): Mọi người bình thường đều có trí tuệ do Thượng Đế ban cho con người. Trí tuệ là cơ năng đặc biệt của con người, biết tự thu nhận kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, tinh luyện suy luận, phát triển sáng tạo, và ứng dụng kiến thức vào công tác xây dựng cuộc sống cá nhân và xã hội.

- Lý trí (reason): là cơ năng giúp con người biết phân biệt, tốt xấu, phải trái

- Tự do (freedom): Tự do tâm lý là yếu tố bẩm sinh, mọi người đều có tự do quyết định về phương diện tâm lý như chọn lành lánh dữ, tự do suy tư, mơ ước, yêu thương, mặc dù tự do tâm lý có thể bị hạn chế bởi tự do chính trị, luân lý xã hội, tôn giáo, tạo thành cái gọi là siêu bản ngã (superego) đè nặng lên tự do tâm lý.


- Ý chí (will): Ý chí là yếu tố do con người tự rèn luyện. Có chí thì nên. Có trí tuệ để suy tư, tìm ra việc phải làm, kiến tạo lý tưởng, có tự do chọn lựa lý tưởng, nhưng nếu không có ý chí cương quyết thúc đẩy hành động thì dù có chương trình, kế hoạch mà thiếu quyết tâm thực hiện cũng như không.

Nếu chúng ta có trí tuệ mà không biết học hỏi, thu nhận kiến thức, tinh luyện suy luận, phát triển sáng tạo và ứng nghiệm vào đời sống, thì trí tuệ sẽ trở nên vô dụng. Ngọc bất trác bất thành khí, uổng công của Thượng Đế. Con người có tự do để hành động, nhưng phải biết hành sử quyền tự do qúy báu này đề làm việc hữu ích cho nhân quần xã hội. «Tự do chân chính, nhân bản là tự do làm viêc thiện và ngược lại là thứ tự do giả tạo». Tự do mà Thượng-Đế ban cho loài người không phải tự do biếng nhác, phí phạm cuộc đời. Sự biếng nhác sẽ làm hạ nhân phẩm con người (dehumanization) qua những hành vi tiêu cực, khiến cho thân thể không phải là phương tiện cho trí tuệ phát triển. Nếu trí tuệ bị giam giữ trong một cơ thể biếng nhác, có mắt mà không có tròng, có tai mà không chịu nghe..., thì trí tuệ sẽ bị lụn bại, thân xác nẩy nở theo tuổi tác mà trí tuệ vẫn ở trạng thái thiếu truởng thành.

Trạng thái ấu trĩ này khiến cho con người gặp nguy cơ rơi vào tình trạng thiếu nhân cách, sống không tưởng: Hoặc tự xem mình là tuyệt hảo, tài ba hơn người, cái gì cũng hay cũng giỏi, nên không cần học hỏi, vì nghĩ mình là thiên thần giáng thế (angelism). Cũng có thể ngược lại thải độ thái độ tự thần thánh hoá, con người rơi vào hố sâu vật chất, không phân biệt được sự khác biệt giữa đời sống của con người và đời sống của thú vật, nghĩa là không có linh hồn, tôn thờ vô thần và duy vật (materialism).

Thế thì với trí tuệ mà Thượng Đế ban cho chúng ta, với quyền tự do quyết định và với ý chí cương quyết để thực hiện những gì chúng ta mong ước, con người đã có đủ phương tiện sống ở đời để thừa hưởng sản nghiệp thiên phú gồm đất đai, sông núi, tài nguyên thiên nhiên, muông thú, hoa lá cỏ cây....Thượng Đế như vậy đã yêu thương con người không bút nào tả xiết.

Mặc dù con người hưởng được cuộc sống thần tiên ở trần gian, nhưng con người vẫn tự tạo cho chính mình những ngăn trở khiến cho đời sống bớt phần thi vị hạnh phúc. Dù có sự thành công và cố gắng, con người vẫn gặp cảnh bất công, xấu xa, và cảm nhận sự bất hạnh, do ma vương, quỷ dữ tạo nên như làn sóng vô thần, bạo loạn, chiến tranh làm cho chúng ta mất tự do, xa lìa quê hương, sống viễn xứ. Mỗi khi gặp sự bất hạnh, con người lại cố gắng vượt thoát sự bất hạnh nhờ tiềm năng bẩm sinh. Đặc điểm của tiềm năng này là tái tạo tưởng cho cuộc sống. Một khi đã có lý tưởng thì con người biết việc gì phải làm, con đường nào phải đi và biết ứng dụng khả năng mình để thực hiện lý tưởng mình mong ước.


Người ta thường nói đời sống mà không có lý tưởng như bầu trời không tinh tú, hoặc «Người mà không có lý tưởng như thuyền không lái, như ngựa không cương trôi dạt long bong không ra thế nào cả». Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cũng nhận thấy nhiều người làm việc không có chương trình, kế hoạch, làm thật nhiều mà kết quả chẳng bao nhiêu, vì bị người ta phụ hay vì mình kém khả năng cũng không biết!  Khi gặp thất bại triền miên vì thiếu lý tưởng, con người có thể rơi vào một trong ba thái độ:

- Thái độ thứ nhất là dù thất bại nhưng vẫn cố gắng làm việc. Thua keo này bày keo khác. Học hỏi kinh nghiệm, thất bại là mẹ thành công, là những người có thái độ tích cực đáng khích lệ. Thi hỏng không bỏ cuộc mà chuẩn bị thi lại. Có chí thì nên.

- Thái độ thứ hai là thoái thác, quy ẩn. Thất bại vài lần sinh ra chán nản, bi quan, trở về quy ẩn. «Quan bất sai, lại bất vấn». Mời gọi tham gia việc này, thực hiện việc nọ đều bị khước từ bằng cái lắc đầu từ nan. «Thôi thôi ta đã biết rồi, lồng vàng âu cũng là nơi ngục tù».

- Thái độ thứ ba là đả phá tiêu cực, bất mãn, sinh ra phá hoại để trả thù thực tại, không lấy cũng quấy cho hôi. Một số người thất bại sinh ra oán hận đời, chống đối, nói hành nói xấu cho bỏ ghét, chê bai mọi người. Do đó, trong đời sống hàng ngày, chúng ta thấy những người hay chống đối thường là những người tâm hồn bị giao động vì thiếu lý tưởng, như thuyền không lái, như ngựa không cương, trôi dạt long bong không ra thế nào cả.


Trong một đoàn thể, một cộng đồng mà nhiều người có lý tưởng là dấu hiệu tốt đẹp, xã hội có tiềm năng tiến bộ. Ngược lại, trong một đoàn thể, cộng đồng mà nhiều người không được hướng dẫn để tìm ra một lý tưởng để sống thì hội đoàn, cộng đồng sẽ tiến triển một cách chậm chạp, làm trì trệ mọi chương trình và kế hoạch hữu ích cho sự phát triển của đoàn thể, cộng đồng và xã hội.

Thế thì điều quan trọng là mọi người trong đoàn thể, cộng đồng, thử xét lại chính mình, quay lại cuốn phim của đời mình, xem thử xưa nay mình đã làm những gì, thành công như thế nào, và tại sao lại thất bại. Thượng đế đã cho chúng ta lý trí để suy xét thì hãy bỏ chút thì giờ dùng lý trí để tìm về dĩ vãng, phân tách xem những việc đã làm, xét lại hiện tại đang làm những gì, và dự phóng những công tác sẽ thực hiện trong tương lai.


Những người chỉ trông cậy vào quá khứ, xưa bày nay làm, là những người thiếu khả năng suy luận và thiếu sáng kiến. Những điều người trước đặt để ra, phát họa ra chỉ nên xem là những suy luận căn bản để chúng ta dựa vào hầu bổ túc và phát triển cho hợp với sự tiến bộ của con người, với tinh thần trung thành một cách sáng tạo (creative loyalty) theo dấu chỉ của thời đại (Signs of the times). «Đọc sách mà tin hoàn toàn vào sách, nhược bằng đừng đọc sách thì hơn» là vậy. Thật ra, trên đời này chẳng có gì mà không làm được, hay không cải tiến được. Cái khó là ở chỗ biếng nhác, thiếu kiên nhẫn mà thôi. «Thế thượng vô nan sự, nhân tâm tự bất kiên.»

Muốn thành người hữu dụng và sống đúng với ý nghĩa làm người (to be fully human), chúng ta phải kiến tạo cho mình một lý tưởng. Người không có lý tưởng là người chưa trưởng thành (immature). Người trưởng thành thật sự, là những người sống một cách hữu dụng cho cá nhân, gia đình và nhân quần xã hội.

Diễn trình (process) kiến tạo lý tưởng là diễn trình suy luận, tự kiểm thảo, thu nhận dữ kiện, ứng dụng khả năng hầu tìm ra một hướng tiến thích hợp cho mình trong bối cảnh phục vụ phúc lợi chung.


Hầu hết mọi người đều có lý tưởng, dù có khi mơ hồ chưa nhận chân được lý tưởng một cách rõ rệt. Có khi lẫn lộn giữa lý tưởng chính đáng (authentic ideal) và lý tưởng sai lạc (false ideal), giữa lý tưởng và các mục tiêu (objectives) phải thực thi để đạt tới lý tưởng. Đặt phụ thành chính và biến chính thành phụ làm cho tâm hồn mình cứ phân vân không biết nên làm gì trước, làm gì sau. Sự lưỡng lự làm mình mất thì giờ, có khi nửa đường mà bỏ cuộc: «Bán đồ nhi phế.»

Nói một cách tổng quát, muốn biết lý tưởng, nên xét lại mình đã dùng tiền bạc, thì giờ, công sức, suy tư đến vấn đề gì nhiều nhất trong cuộc sống của mình thì có thể vấn đề đó là lý tưởng của đời mình. Có người hy sinh thì giờ để viết lách nhằm «Phù thế giáo một vài câu thanh nghị». Có người hy sinh cả cuộc đời vì lý tưởng cách mạng, giải thoát dân tộc ra khỏi nơi đắm đuối. Có người bỏ cuộc đổi trần thế để tu trì, cứu nhân độ thế. Có người hy sinh thì giờ để phục vụ nhân quần xã hội....

Chúng ta khoan lượng giá lý tưởng «đúng hay sai, tốt hay xấu», mà chỉ kiểm điểm lại sự việc (identify the issues). Một khi đã kiểm điểm sự việc chúng ta mô tả rõ sự việc đó, so sánh với luật lệ, với luân lý cổ truyền, với các tiêu chuẩn xử thế của một người bình thường (reasonable person standard) xem thử những gì chúng ta theo đuổi có tính cách chính đáng hay không, để gạt bỏ những lý tưởng giả hình (false ideal), không thực tế (unrealistic), phi nhân thất đức ( immoral). Từ đó, chúng ta có thể điều chỉnh tư duy và hành động nhằm thực hiện lý tưởng đích thực hữu ích cho cá nhân, gia đình, cộng đồng, quốc gia, và nhân loại.


Vai trò của lý tưởng rất quan trọng trong đời sống của con người. Lý tưởng là nguồn sống của con người. Nguồn sống bao gồm cả sự thích thú khi thực hiện lý tưởng. Bao gồm cả ước vọng, sở thích, khiến cho con người dồn toàn năng lực vào sự thực hiện để đạt đến lý tưởng mong muốn (self actualization).

Chọn lý tưởng là suy luận việc phải làm và dồn hết sở thích của mình vào lý tưởng đó. Thực hiện lý tưởng còn phải được thôi thúc bởi ý chí (will) tức là nguyên động lực thúc đẩy mình thực thi lý tưởng. Nếu thiếu ý chí, đôi khi có lý tưởng nhưng không thực hiện được vì thiếu quyết tâm, sa ngã, yếu lòng, bị lôi kéo, chia trí bởi những lý tưởng lệch lạc.

Lý tưởng chính đáng (authentic ideal) là lý tưởng có thể thỏa mãn mọi nhu cầu của mình. Nhu cầu về đời sống thiêng liêng cũng như đời sống thế trần. Một công trình có ý nghĩa nhất mà mình có thể hiến trọn cuộc đời để thực hiện, khi thực hiện như vậy, chúng ta đạt được giai đoạn trưởng thành.

Làm thế nào để kiến tạo cho mình một lý tưởng:

1.   Trước hết, phải ấn định chủ đích (goal), việc dự định làm, việc cần thực hiện để có thể thỏa mãn nhu cầu hiện tại và tương lai của mình. Chủ đích này phải có sức hấp dẫn lôi cuốn sức cố gắng của mình. Nghĩa là không tạo sự chán nản trong lúc thực hiện, vì sự chán nản có thể làm cho chứng ta bỏ cuộc.

Chủ đích phải có tính cách thử thách tài năng của chúng ta, khiến cho chúng ta quyết chí đạt đến việc đã định. Chủ đích phải có tính thực tế, nghĩa là có thể thực hiện được, có thể đạt được, phù hợp với khả năng của mình. Chọn chủ đích quá khả năng của mình tức là chọn chủ đích không tưởng.

2.   Sau khi định được chủ đích phải thực hiện, phải tạo cho mình lòng tin sắt đá sẽ đạt được chủ đích đó. Sự xác tín (conviction) chở được núi. Lòng tin thúc đẩy mình thực hiện chủ đích một cách dễ dàng.

3.   Đang khi thực hiện chủ đích, chúng ta sẽ cảm thấy thích thú trong công việc làm, không cảm thấy mệt mỏi, nhờ đó công tác được thực hiện nhanh chóng.

4.   Khi thực hiện các mục tiêu đề đạt đến chủ đích, phải đặt ra những tiêu chuẩn (criteria) để lương định công tác, xem thử công tác đã thực hiện đúng mức, quá nhanh, quá chậm, đúng đường hướng, hay sai lệch để tiện việc điều chỉnh.

5.   Một khi đã có lý tưởng, thì tâm hồn bình thản vì biết mình có hướng đi rõ rệt, không lo lắng vẩn vơ, không bị lôi kéo bởi mãnh lực này, ý kiến nọ, mà nhất quyết thi hành cho trọn vẹn lý tưởng của mình. Những người làm việc có lý tưởng không tranh chấp, không bình phẩm vu vơ, không tiên đoán lệch lạc, không ganh tỵ, không lộng ngôn. Những người có lý tưởng thường bận rộn nhằm chu toàn lý tưởng đang theo đuổi.

Theo đuổi một lý tưởng tức là yên tâm thực hiện những gì mình mong ước, an tâm sống với lý tưởng của mình, sự thực hiện lý tưởng dần dần trở thành lối sống của mình (way of life), một lối sống đầy đủ về mọi phương diện, trong ấm, ngoài êm. Những người có lý tưởng khác hẳn người thường là sự bình tâm, an lạc, say mê lý tưởng và dồn nỗ lực phục vụ lý tưởng của mình.

6.   Một khi sự thực hiện lý tưởng đã trở thành thói quen của cuộc sống, có nghĩa là nếu không thực hiện được những gì mình mong ước thì mình cảm thấy không được bình an trong tâm hồn. Khi đó, chính lý tưởng đã thôi thúc chúng ta làm việc một cách hăng hái, khiến cho công lực chúng ta gia tăng, nhờ đó vượt mọi trở ngại, thử thách đề đạt đến những gì mình đã quyết định.

7.   Lý tưởng đến giai đoạn này là trụ buồm vững chắc cho cuộc sống của chúng ta, giúp chúng ta trải qua cơn sóng gió của cuộc đời, giữ vững đức tính làm người xứng đáng, làm người có lý tưởng, làm người toàn diện (fully human).


«Đời người không có lý tưởng như bầu trời không tinh tú». Người có lý tưởng là người tự tin. Thận trọng trong lời nói và chín chắn trong hành động vì ngôn và hành đều có chủ đích nhắm đến một mục tiêu đã định.

 Bá nhân bá tánh, mỗi người thiên về một loại lý tưởng. Những người có lý tưởng tương đồng thường kết hợp để thực thi lý tưởng như lập chính phủ, chính đảng để thực thi lý tưởng cách mạng dân tộc... Lập hội để phục vụ cộng đồng, lập nơi thờ tự để chiêm bái....

Điều quan trọng là phải tôn trọng lý tưởng chính đáng của tha nhân. Ai không đồng lý tưởng với mình không phải là kẻ chống đối mình. Lý tưởng chính đáng là lý tưởng tôn trọng nhân quyền, nhân phẩm, hữu ích cho nhân quần xã hội.

Sỡ dĩ xã hội tiến bộ là nhờ những công dân hữu dụng, hoàn thành những chương trình kế hoạch trong lúc thực thi lý tưởng của mình. Xã hội tiến bộ có hằng trăm ngành hoạt động. Thời gian sống hữu hạn, không ai có thể làm hết mọi việc, học hết mọi ngành. Đời sống hữu hạn, kiến thức chúng ta thu nhận được cũng rất hữu hạn và tương đối. Thầy ngành nầy lại là học trò của ngành khác. Không ai toàn thiện, toàn mỹ và cũng không ai không biết gì.         

Luận về lý tưởng là luận bàn về chiều sâu của cuộc sống liên quan đến phạm trù triết học nhân sinh, nhằm góp phần suy diễn về đời người và người ở đời, là một vấn đề muôn thuở. Nhà Tâm lý học Maslow đã nhắc đến 5 loại nhu cầu của nhân thế: (1) Nhu cầu sinh vật lý (physiological need) như đói ăn khát uống; (2) nhu cầu sống an toàn (safety need); (3) nhu cầu hội nhập, sinh hoạt hội đoàn,(social need); (4) nhu cầu được tôn trọng (esteem need) và (5) nhu cầu thực hiện lý tưởng của đời mình (self actualization need).

Lý tưởng đóng vai trò điều hướng hành vi của con người. Thiếu lý tưởng tức là chưa trưởng thành về tư tưởng; nói khác đi, chưa trở thành con người toàn diện vậy.

Trần Xuân Thời